Thứ Sáu, 28 tháng 3, 2014

Tắm bé sơ sinh đúng cách và những lưu ý

Cơ thể bé sơ sinh rất non nớt và yếu ớt vì vậy các bậc cha mẹ cần phải chăm sóc trẻ sơ sinh thật chu đáo và kỹ lưỡng. Một trong những công việc khó khăn nhất trong vấn đề chăm sóc trẻ sơ sinh chính là cách tắm bé sơ sinh. Sở hữu làn da mỏng manh, thân hình nhỏ bé, cha mẹ phải rất khó khăn khi tắm cho bé, không khiến da bé bị tổn thương. Vậy bạn đã biết cách tắm bé sơ sinh đúng cách chưa? Care With Love xin chia sẻ về cách tắm bé sơ sinh tại nhà để các ông bố bà mẹ tự tin hơn.

Quy trình tắm bé sơ sinh đúng cách
Tắm bé sơ sinh là cả một nghệ thuật, đòi hỏi cha mẹ phải am hiểu và nắm rõ quy trình tắm cho bé:

Chuẩn bị: Trước khi tắm cho bé bạn phải chuẩn bị đầy đủ các vật dụng, chứ không để cần đến rồi mới đi lấy. Một số vật dụng cần cho bé như: chậu tắm, nước ấm, quần áo, tất tay, tất chân, tã lót, khăn tắm, dầu gội, sữa tắm,…
tắm bé sơ sinh
Chuẩn bị tắm bé sơ sinh
Các bước sau: 
- Trước khi tắm bé bạn nên nhúng khủy tay vào chậu nước để xem nước vừa đủ ấm chưa hoặc bạn có thể mua nhiệt kế đo nước tắm dành cho bé. Bạn phải chắn chắc rằng nước không quá nóng hoặc quá lạnh.
- Cởi quần áo bé ra nhẹ nhàng. Nếu trên đầu bé có cứt trâu bạn dùng dầu baby oil thoa lên để làm mềm và tróc các vảy này ra. Dùng khăn sạch thấm nước lau nhẹ nhàng ở mắt, mặt, tai và các ngấn dưới cổ. 
- Gội đầu cho bé: Bạn dùng cánh tay đỡ đầu và vai bé hoặc bạn cũng có thể ôm bé gọn trong cánh tay. Làm ướt tóc và thoa dầu gội lên đầu bé. Khi gội đầu cho bé bạn cần phải bịt 2 tai của bé không để nước vào tai và mắt bé. Sau khi gội xong bạn phải lau thật khô tóc cho bé.
- Tắm cho bé: Bạn ẵm bé nằm ngửa và đặt bé từ từ xuống chậu nước để bé thích nghi, dùng một tay nâng đầu và vai bé. Tay còn lại thoa sữa tắm lên người bé và hớt nước làm sạch nhẹ nhàng. Bạn không nên để bé trong nước quá lâu, chỉ nên tắm bé sơ sinh trong vài phút.
- Sau khi tắm cho bé xong bạn bế bé đặt lên trên một chiếc khăn sạch và lau khô cho bé. Sau đó mặc áo, tã, mang tất tay, tất chân để giữ ấm cơ thể bé

Những lưu ý khi tắm bé sơ sinh
Để là các bậc cha mẹ đảm đang và tuyệt vời, khi tắm bé bạn cần phải chú ý những điều sau đây:
- Với thời tiết nóng bức bạn cần tắm cho bé mỗi ngày để bé luôn được thoải mái và sạch sẽ.
- Khoảng thời gian thích hợp tắm cho bé là từ 8h sáng cho đến 3-4h chiều, tránh tắm bé quá sớm hoặc quá trễ.
- Thời gian tắm cho bé khoảng 5 phút/lần tắm.
- Quan sát bé trong khi tắm.
- Vệ sinh bộ phận sinh dục cho bé trước khi tắm ( nếu bé đi tiêu, tiểu )
- Vào mùa đông bé dễ mắc các chứng bệnh về đường hô hấp vì thể bạn chỉ cần tắm cho bé 2 lần/tuần, còn các ngày còn lại thì dùng khăn ướt lau sạch.
- Nơi để tắm cho bé phải tránh gió, nên tắm trong phòng kín.
- Bạn nên tắm bé sơ sinh theo từng bước một.
- Với các loại dầu gội, sữa tắm phải là sản phẩm dành cho trẻ sơ sinh.
tắm bé sơ sinh
Kỹ thuật tắm bé sơ sinh
Việc tắm bé sơ sinh sẽ ngày càng thắt chặt tình cảm thiêng liêng giữa bạn và bé. Hãy chứng tỏ bạn là một bậc cha mẹ đảm đang ngay từ bây giờ bạn nhé!

Bé khỏe đẹp nhờ mẹ, mẹ khỏe đẹp nhờ Care With Love!

Chăm sóc, làm đẹp sau sinh

Mùa xuân luôn là thời điểm để các chị em có thể đi chùa, khai hội, du xuân… Nhưng làm sao để chị em có thể tự tin vì sở hữu cơ thể thơm mát, sạch sẽ, đặc biệt lấy lại dáng ngà sau sinh một cách an toàn và hiệu quả nhất? Chúng tôi sẽ chia sẻ với các mẹ những bí quyết làm sạch cơ thể, bảo vệ sức khỏe, lấy lại vóc dáng thon gọn sau khi sinh vô cùng ý nghĩa.

Đối với những sản phụ đang trong giai đoạn kiêng cữ
Giai đoạn kiêng cữ thực sự rất quan trọng đối với cơ thể sản phụ. Vì thời điểm này, cơ thể chị em rất nhạy cảm, cần phải tránh gió, tránh nước lạnh để phòng chống các chứng bệnh hậu sản sau này. Theo Y Học cổ truyền đối với hầu hết tất cả mẹ bầu, sau sinh 5- 7 ngày cần phải được xông hơi. Vì cơ thể người mẹ lúc này khí hư huyết nhược, tân dịch hao tổn, vệ khí hư suy nên tà khí dễ dàng thừa cơ xâm nhập. Phương pháp xông hơi có tác dụng thúc đẩy khí huyết lưu thông, tăng cường vệ khí, đuổi phong hàn thấp tà ra khỏi cơ thể. Ngoài ra, thời gian kiêng cữ kéo dài khiến các chị các mẹ hoàn toàn không được tắm rửa và tiếp xúc quá nhiều với nước khiến cơ thể chị em ngứa ngáy, khó chịu, nhất là trong mùa hè oi bức, cảm giác khó chịu này càng tăng lên. Thời gian xông hơi thường khoảng sau 5 đến 7 ngày đối với đẻ thường, khoảng sau 7 đến 10 ngày đối với đẻ mổ. Thời gian xông hơi từ 15 đến 30 phút mỗi lần, tuần từ 1 đến 2 lần tùy vào từng cơ địa mỗi sản phụ. Sau khi xông hơi không nên tắm lại mà chỉ cần sử dụng khăn bông lau khô lại là cơ thể sản phụ đã sạch sẽ thơm mát.

Hiện nay, do nhu cầu và sự bận rộn của các bà mẹ trẻ,việc xông hơi tại nhà, rất đơn giản mà vô cùng hiệu quả. Biện pháp xông hơi toàn thân sử dụng các nguyên liệu từ thiên nhiên như ngải cứu, hương nhu, lá tre, vỏ bưởi, hương nhài… Tinh dầu thơm từ các nguyên liệu này hòa cùng hơi nước thấm sâu hơn vào cơ thể chị em, tới từng các lỗ chân lông, từng đường da thớ thịt khiến cơ thể sạch sẽ thơm mát, giúp làm ấm toàn cơ khớp, kinh lạc, giúp huyết mạch lưu thông mang lại cảm giác sảng khoái và khỏe mạnh.

Phương pháp gội đầu khô
Đây là một phương pháp khá đặc biệt xuất hiện trong những năm gần đây. Ưu điểm của phương pháp này là gội đầu mà không cần phải xả nước như cách gội đầu thông thường nên đặc biệt thích hợp đối với sản phụ trong thời gian kiêng cữ tránh nước, tránh gió.

Vận dụng ưu điểm của phong cách gội đầu khác biệt này để chăm sóc tóc cho các chị các mẹ nhằm giúp sạch chất nhờn, gàu, các chất cặn bã ứ đọng tại chân tóc. Dầu gội có thành phần 100% từ thiên nhiên nguyên chất nên đặc biệt tốt để nuôi dưỡng tóc và da đầu.

Đối với sản phụ đã có thể tắm gội
Sau giai đoạn kiêng cữ, các chị em có thể tắm gội nhẹ nhàng, một tuần có thể từ 2 đến 3 lần. Nhưng làm sao vừa tắm gội sạch, vừa bảo vệ sức khỏe? Các cụ đã nghĩ ra một cách đó là dùng nghệ, gừng và rượu ngâm lại tạo thành thứ hỗn dịch rượu gừng, nghệ. Chỉ cần cho vài giọt rượu ngâm gừng nghệ và nước tắm sẽ khiến khí huyết lưu lợi, kinh mạch lưu thông, vệ khí mạnh mẽ, giúp phòng chống được lục dâm, phòng chống các bệnh do ngoại tà thừa cơ xâm nhập.

Xông hơi vùng kín
Vùng kín là cơ quan khá nhạy cảm của chị em phụ nữ. Sau quá trình chuyển dạ, vùng kín bị giãn rộng và tổn thương, trầy xước, cùng với lượng sản dịch ra mỗi ngày… tạo điều kiện cho vi khuẩn thừa cơ xâm nhập gây viêm nhiễm. Tuy nhiên, không phải sản phụ nào cũng nhận thức được điều này và không coi trọng cô bé khiến nguy cơ viêm nhiễm càng tăng cao. Vì vậy, cham soc sau sinh, cần chú trọng đến chăm sóc sức khỏe toàn diện, đặc biệt là sức khỏe vùng nhạy cảm. Thời điểm xông hơi vùng kín thường sau khoảng 2 đến 3 tuần, khi lượng sản dịch đã giảm dần và hết. Thời gian xông từ 2 đến 3 lần 1 tuần.

Hiện nay, việc kết hợp phương pháp xông hơi vùng kín với tác dụng đưa tinh dầu của một số vị thuốc Đông Y tác dụng diệt khuẩn như hương nhu, ngải cứu, sa sàng tử, liên kiều, kim ngân…đi vào tận sâu vùng kín tác dụng chữa trị và phòng chống các bệnh viêm nhiễm phụ khoa, đồng thời chữa lành các tổn thương vùng kín do quá trình sinh nở gây ra. Xông hơi vùng kín giúp các chị em luôn có cảm giác khô ráo thoáng mát, dễ chịu.

Bằng sự kết hợp hài hòa, đầy tính sáng tạo giữa cham soc sau khi sinh theo Y Học Tây Phương tân tiến hiện đại và lam dep sau sinh theo Y Học Cổ Truyền phương Đông với nguyên liệu sử dụng trong quá trình chăm sóc 100% từ thiên nhiên sẽ mang lại kết quả bất ngờ dành cho sản phụ sau sinh.

Cùng với kinh nghiệm, bí quyết của riêng mình trong lĩnh vực làm đẹp và chăm sóc sức khỏe sau sinh sẽ giúp các sản phụ nhanh chóng hồi phục sức khỏe và lấy lại vóc dáng thon gọn cùng làn da trắng mịn màng ngay sau sinh.

Sau khi sinh, bên cạnh việc chăm sóc bé yêu một cách chu đáo thì việc chăm sóc hồi phục sức khỏe, giảm cân và lấy lại vóc dáng thon thả là nhu cầu chính đáng của các bà mẹ trẻ. Vì vậy, các mẹ hãy cân nhắc thật kỹ càng để lựa chọn cho mình được phương pháp làm đẹp sau sinh như ý nguyện.

Thứ Tư, 26 tháng 3, 2014

Những tư thế ngồi không tốt khi mang thai

Tư thế ngồi khi mang thai có thể ảnh hưởng đến sức khỏe của thai phụ lẫn em bé. Dưới đây là một số tư thế ngồi sai bà bầu nên tránh và cách ngồi để tránh cho các mẹ bầu bị sảy thai.

Ngồi bắt chéo chân hay gập gối
Chị em thường hay bắt chéo chân khi ngồi vì tư thế này khá duyên nhưng thói quen này góp phần làm hạn chế sự lưu thông máu, giãn tĩnh mạch. Đặc biệt, phù chân là hiện tượng hay gặp ở các bà bầu, tư thế này càng khiến máu dồn về phía chân gây to chân thêm. Ngoài ra, khi có bầu, chị em không nên gập gối vì sẽ khiến lưng dưới bị đặt nặng áp lực. Ngược lại, phụ nữ có thai nên phân đều lực lên cả hai chân, ngồi thẳng lưng.

Ngồi không tựa lưng
Tư thế ngồi không tựa lưng sẽ khiến bạn bị đau lưng. Tốt nhất, các bà bầu nên để lưng được hỗ trợ bằng vật tựa và luôn giữ cho cột sống thẳng. Tránh ngồi ghế đẩu hoặc ghế có tựa lưng thấp khi mang thai.

Ngồi ngửa, thõng vai
Thông thường khi ở nhà, chúng ta hay ngồi ngửa người, bụng cao, vai buông thõng. Tuy nhiên, tư thế ngồi này không thích hợp cho thai phụ vì nó sẽ khiến vùng lưng phía dưới bị đặt trong tình trạng căng thẳng và gây đau.

Ngồi gập người về phía trước
Tư thế ngồi này tạo áp lực lên bụng, không những khiến cho mẹ bầu thấy không thoải mái mà còn gây nguy hiểm cho thai nhi. Trong giai đoạn thai nhi đang phát triển, ngồi gập có thể khiến lồng ngực của bạn để lại dấu tích vết vĩnh viễn trên cơ thể mềm mại của đứa bé.

Ngồi nửa mông
Chị em thường ngồi nửa mông mỗi khi trên giường nhưng theo các chuyên gia, tư thế ngồi này gây nhiều áp lực lên cột sống. Đó là lý do tại sao thai phụ thường cảm thấy đau nhói ở lưng khi ngồi lâu tư thế này.

Tư thế ngồi để tránh sảy thai cho bà bầu
Tư thế ngồi ghế
- Phải ngồi sâu vào trong ghế, lưng tựa thẳng vào lưng ghế. Nếu ngồi ở mép ngoài ghế sẽ bị trượt, nếu ghế không ổn định còn có nguy cơ bị ngã.

- Khi ngồi ghế có lưng dựa, phải xếp khớp đầu gối cho đùi và cẳng chân vuông góc, đùi song song với mặt đất.

- Khi ngồi không được đặt ịch mông xuống ghế, trước tiên bạn nên đặt mông xuống phía ngoài rồi đẩy mông xuống vào phía trong.

Độ cao của bàn, bệ
Độ cao của bục là quần áo hoặc bồn rửa trong bếp nên ở vị trí vừa tầm để thai phụ không phải khom người hoặc rướn người.

Tư thế lên xuống cầu thang
Khi lên cầu thang, bạn không được khom lưng hoặc quá ưỡn ngực, ưỡn bụng, bạn nên duỗi thẳng lưng. Lúc xuống cầu thang, các bà bầu cần chú ý nhìn rõ các bậc cầu thang, bước lên, xuống chậm rãi và chắc chắn. Không nên chỉ bước bằng mũi chân, vì dễ gây nguy hiểm do ngã.

Thời gian cuối của thai kì, do bụng bà bầu nhô ra phía trước, che khuất tầm nhìn nên bạn có thể không thấy được bàn chân mình. Vì thế, bạn nên chú ý đặt bàn chân vững chắc rồi mới di chuyển thân thể. Nếu có tay vịn, nhất định bạn phải vịn vào tay vịn khi lên, xuống

Tư thế khi nhặt các đồ vật
Khi nhặt các đồ vật trên mặt đất, trước tiên bạn phải gập đầu gối, sau đó hạ eo xuống, ngồi xuống vững chắc rồi mới nhặt đồ vật. Sau khi nhặt đồ vật xong, bạn nên đứng thẳng lên. Tuyệt đối không được khom người khi nhặt đồ vật.

Những động tác nên tránh trong lúc mang thai
Các bà bầu nên tránh làm các động tác như: điều khiển máy hút bụi, quỳ gối lau nhà, ngồi gập chân ra phía sau, mang xách nhiều đồ, đi xe đạp chở nhiều đồ, ngồi xổm, đứng quá lâu, đứng trên ghế để kiễng hoặc với…

Thứ Ba, 25 tháng 3, 2014

Lợi sữa sau sinh từ thực phẩm tự nhiên (tảo mặt trời).

Sữa mẹ là nguồn thức ăn tốt nhất đối với trẻ nhỏ. Trong sữa mẹ chứa đầy đủ chất béo, tinh bột, đạm, các vitamin và khoáng chất cần cho sự phát triển của bé. Ngoài ra, sữa mẹ còn là một loại “kháng sinh” tự nhiên tuyệt vời, bảo vệ hệ miễn dịch non nớt của bé khỏi các tác hại của môi trường xung quanh. Chính vì thế mẹ luôn mong muốn nuôi con hoàn toàn bằng sữa mẹ. Tuy nhiên, mong muốn đó không phải mẹ nào cũng có được, một vài nguyên nhân đó là tình trạng ít sữa, tắc sữa, mất sữa ở một số mẹ sau sinh và cho con bú, khiến các mẹ không có đủ lượng sữa để cung cấp cho con.

Có nhiều yếu tố ảnh hưởng đến việc tiết sữa của mẹ, trong đó quan trọng nhất là chế độ dinh dưỡng và nghỉ ngơi. Để lợi sữa, nhiều mẹ tìm đến phương pháp dân gian như ăn nhiều cá chép, mè, chân giò heo… có tác dụng giúp lợi sữa. Tuy nhiên, ăn nhiều món ăn này trong một thời gian dài làm các mẹ dễ ngán, khó ăn, tăng cân khó kiểm soát do các món này có rất nhiều mỡ.

Cốm lợi sữa cũng là một giải pháp cho các mẹ ít sữa. Các loại cốm lợi sữa này có thể giúp các mẹ tiết sữa nhiều hơn. Tuy nhiên, song song với việc sử dụng cốm lợi sữa, các mẹ vẫn cần bổ sung các chất dinh dưỡng qua các loại thực phẩm hàng ngày để tăng “chất” cho nguồn dinh dưỡng thiết yếu này cho bé vì đa số các loại cốm lợi sữa chỉ có tác dụng tăng tiết sữa chứ không làm tăng chất lượng sữa cho các mẹ. Một giải pháp toàn diện hơn, giúp lợi sữa cả về chất và lượng đó là Tảo Mặt trời Spirulina (Tảo Spirulina) – loại thực phẩm bổ sung dinh dưỡng hoàn toàn tự nhiên, được tổ chức Y Tế Thế Giới, tổ chức Nông Lương Thế Giới, Liên Hợp Quốc khuyên dùng. Tảo Mặt trời Spirulina là một giải pháp lợi sữa tuyệt vời cho các mẹ đang cho con bú vì:

Trong Tảo Mặt trời chứa hơn 100 vi chất dinh dưỡng: đạm (được tổng hợp từ 18 trong tổng số 20 axit amin, đảm bảo cung cấp 8 axit amin cơ thể không tự tổng hợp được mà phải bổ sung qua thức ăn hàng ngày), vitamin, chất khoáng với hàm lượng cao hơn nhiều trong các loại thực phẩm thông thường, kết hợp với lượng lớn các chất chống oxi hóa và axit béo không no GLA (omega 6) tự nhiên – chỉ có trong sữa mẹ, Tảo Spirulina và một số loại hạt, giúp các mẹ có nhiều sữa đồng thời cải thiện chất lượng sữa mẹ một cách đáng kể: đặc hơn, nhiều dưỡng chất hơn.

Ngoài ra, axit béo không no GLA (omega 6) và các chất chống oxi hóa  trong Tảo Mặt trời, còn giúp  tăng cường hệ tim mạch cho mẹ và bảo vệ hệ miễn dịch cho bé.

Tảo Mặt trời chứa các chất chống oxi hóa tự nhiên như Phycocyanin, Chlorophyll, Beta-carotene... cao, có tác dụng thanh lọc, giải độc cho cơ thể, đốt cháy mỡ thừa, giúp các mẹ nhanh chóng lấy lại sức khỏe và vóc dáng thon gọn sau khi sinh bé.

Tảo Mặt trời chứa đầy đủ các vitamin nhóm B từ B1 – B12, và Tryptophan, Phenylalalin là hai axit amin rất quý giúp an thần, giảm căng thẳng, mệt mỏi cho hệ thần kinh, hỗ trợ vấn đề thường gặp của các mẹ là việc thức dậy nhiều lần trong đêm để trông bé, thêm vào đó, các stress trong công việc và quá trình mang thai, sinh nở, làm các mẹ mệt mỏi, ảnh hưởng đến sự tiết sữa.

Tảo Mặt trời hoàn toàn không chứa chất béo, đường, tinh bột,  là nguồn dinh dưỡng lý tưởng giúp các mẹ nhanh chóng lấy lại vóc dáng sau sinh. Uống Tảo Mặt trời trước bữa ăn chính, các mẹ có thể giảm bớt lượng thức ăn nhiều chất béo, năng lượng mà không lo thiếu chất, ảnh hưởng đến chất lượng sữa của con.

Tảo Mặt trời là nguồn dinh dưỡng đủ chất, bổ sung thêm cho các mẹ sau bữa ăn hàng ngày, để tăng cân cho các mẹ gầy do suy nhược sức khỏe sau khi sinh (các mẹ muốn tăng cân cần uống Tảo Mặt trời ngay sau bữa ăn 5 – 10 phút, để bổ sung dinh dưỡng cùng các bữa ăn hàng ngày, đồng thời, đẩy mạnh khả năng tiêu hóa, hấp thu thức ăn từ bữa chính, giúp cơ thể nhận được nguồn dưỡng chất tăng cường và đầy đủ để tăng cân khỏe mạnh)

Đặc biệt hàm lượng kẽm trong Tảo Mặt trời giúp mẹ bầu giảm cảm giác nghén,  bà mẹ sau sinh tăng hệ miễn dịch, giảm mệt mỏi, ăn uống tốt hơn và giúp bé phát triển đầy đủ cả về cân nặng và chiều cao.

Tảo Mặt trời Spirulina không những giúp các mẹ tăng tiết sữa, cung cấp nguồn sữa chất lượng cho bé, nhiều dưỡng chất mà còn rất an toàn, không có tác dụng phụ.

Phòng cúm cho bà bầu

Sức đề kháng chính là yếu tố chống lại các tác nhân xâm nhập, làm ảnh hưởng đến sự phát triển bình thường của cơ thể. Trong giai đoạn thời tiết chuyển mùa như thời điểm hiện nay, bà bầu rất dễ bị ốm bởi sức đề kháng của cơ thể giảm, vi khuẩn bên ngoài có cơ hội tấn công và gây bệnh.

Các triệu chứng nhiễm bệnh đi kèm như hắt hơi, ho, sổ mũi, nghẹt mũi, đau đầu… thực sự khó chịu và nếu không được điều trị kịp thời sẽ dẫn đến những biến chứng nguy hiểm cho cả mẹ và thai nhi. Vì vậy, việc bảo vệ sức khỏe cho cả hai mẹ con trong thời điểm hiện tại vô cùng quan trọng. Những mẹo nhỏ dưới đây có thể giúp bà bầu tăng cường sức đề kháng cơ thể và có một thai kỳ khỏe mạnh.

Đảm bảo chất dinh dưỡng
Nếu chế độ dinh duong cho ba bau cân bằng và đảm bảo thì có thể nâng cấp đường hô hấp của mình. Các bà bầu chú ý bổ sung trong bữa ăn những thực phẩm chứa kẽm bởi khi thiếu kẽm, chức năng “phòng ngự” của đường hô hấp kém hơn. Các thực phẩm giàu chất kẽm thường có trong: [i]hải sản, thịt nạc, thịt bò, lạc, khoai lang và các loại hạt đỗ, đậu.[/i]

Ngoài ra, vitamin C cũng giúp loại bỏ các loại chất có hại, oxy hóa trong cơ thể, đồng thời phòng chống bệnh đường hô hấp, xây dựng một hệ thống miễn dịch tự nhiên giúp cơ thể tăng cường sức đề kháng chống chọi lại với bệnh tật.  Vì vậy, ăn nhiều thực phẩm giàu vitamin C như cà chua, bưởi, cam quýt, súp lơ, ớt, dâu tây, quả kiwi, dưa hấu… là các bà bầu đã tự nâng cao sức đề kháng “vô địch” cho mình rồi!

Ưu tiên sữa chua
Một vài nghiên cứu khoa học chứng minh rằng, bà bầu mỗi ngày ăn một hộp sữa chua ít chất béo sẽ giảm 25% nguy cơ mắc cảm cúm khi mang thai. Những loại vi khuẩn có lợi tự nhiên trong sữa chua giúp tăng cường chức năng miễn dịch và phòng bệnh cho cơ thể, ngăn ngừa sự xâm nhập của các virus gây bệnh vào cơ thể. Vì thế, các bà bầu đừng quên bổ sung thực phẩm có lợi này nhé!

Bổ sung tỏi
Rất nhiều nghiên cứu từng khám phá ra rằng tỏi có thể làm tăng nhanh tốc độ hồi phục sức khỏe sau cúm và tăng sức đề kháng cho cơ thể. Tỏi giúp tăng cường hệ thống miễn dịch chống lại những cơn cảm lạnh thông thường, ngăn ngừa một số bệnh ung thư. Tỏi cũng có thể có thể giúp chống lại nhiễm trùng vòm họng mỗi khi bạn bị cảm lạnh.

Thành phần allicin có nhiều trong tỏi có tác dụng kháng khuẩn cao. Loại tỏi được dùng thường xuyên trong các món ăn là một chất phòng và điều trị cảm cúm khá tốt. Tỏi chưa chế biến có tác dụng chống nấm, chống vi khuẩn và virus.

Các bà bầu có thể dùng dung dịch tỏi để tránh cảm cúm bằng cách giã tỏi cho nhỏ ra rồi pha uống với nước. Mặc dù mùi vị hăng hăng ban đầu của tỏi xông lên có thể hơi khó uống một chút nhưng hiệu quả đem lại rất lớn. Hoặc cách khác là trong quá trình nấu nướng (xào rau muống, xào thịt bò…) nên cho tỏi nhiều hơn, bữa ăn hàng ngày có thêm món dấm tỏi nữa cũng là cách hiệu quả phòng tránh cúm lúc giao mùa.

Vệ sinh mũi, họng bằng nước muối
Bà bầu cần vệ sinh mũi, họng thường xuyên vài lần/ngày bằng nước muối. Mỗi sáng sớm thức dậy dùng nước muối để súc miệng, sau đó uống nửa cốc nước lọc, như thế không những giúp phòng cảm mà còn rất có ích cho sức khỏe của răng, lợi. Bởi vì trong thời kỳ mang thai, nếu chảy máu chân răng sẽ dễ mắc chứng viêm lợi.

Không quên uống nước
Uống nhiều nước có hiệu quả rất tốt để phòng chống cảm và viêm họng,vì thế khi mang thai, thai phụ nên uống tối thiểu từ 6 - 8 ly nước mỗi ngày. Nước sẽ có tác dụng thải độc, thanh lọc những độc hại trong cơ thể, tăng sức đề kháng, giúp thai phụ phòng chống bệnh.

Tập luyện, hít thở không khí trong lành
Tập luyện thể dục thể thao là con đường tốt nhất để nâng cao khả năng phòng chống bệnh cho cơ thể, cho nên phụ nữ có thai cần kiên trì tập luyện bằng những bài tập nhẹ nhàng, phù hợp trong suốt cả quá trình mang thai.

Thời tiết mùa thu khô hanh khiến nhiều thai phụ ngại vận động ngoài trời. Đây chính là nguy cơ làm gia tăng tình trạng cảm cúm do virus gây bệnh và các loại vi khuẩn độc hại khác có khả năng sống sót trong những căn phòng khô hoặc những nơi ẩm thấp trong nhà. Trừ những ngày quá lạnh, nếu không, các mẹ cũng nên duy trì hoạt động đi bộ ngoài trời để tăng cường hệ miễn dịch, bảo vệ cơ thể khỏi cảm.

Ngoài ra, bà bầu nên để cho ngôi nhà cũng như phòng ở luôn được hấp thụ không khí trong lành, thoáng mát. Khi ngủ, các mẹ hãy để phòng thoáng đãng, không nên bật quạt quá lạnh và để thốc thẳng trực tiếp vào mặt.

Tránh chỗ công cộng
Để cơ thể tăng cường hệ miễn dịch, ngoài chế độ dinh duong cho ba bau đầy đủ, tinh thần tốt, bà bầu cũng không nên tiếp xúc với môi trường dễ có nguy cơ lây nhiễm cúm. Nên tránh hoặc hạn chế đi đến chỗ đông người hoặc nơi công cộng, bởi vì người càng đông thì nguy cơ bị lây nhiễm bệnh càng cao.

Điều quan trọng nhất là khi thay đổi thời tiết, không khí se se lạnh, bà bầu nên mặc áo ấm và hạn chế đi mưa khi đang mang thai. Những tháng sắp tới nắng mưa thất thường nên nếu như công việc cần thiết phải đi xa, các bà bầu nên cẩn thận mang theo bên mình chiếc ô dù hoặc một chiếc áo mưa.

Việc phòng bệnh là rất cần thiết cho các bàu bầu đang trong quá trình bầu bí. Ngay từ bây giờ, bà bầu nên trang bị cho mình những kiến thức đầy đủ, tạo cho mình thói quen ăn uống, nghỉ ngơi khoa học để có sức đề kháng tốt giúp tránh xa bệnh tật nhé!

Bài thuốc cho trẻ suy dinh dưỡng

Suy dinh dưỡng trẻ em Đông y gọi là cam tích. Nguyên nhân thường gặp là do trẻ ăn uống không điều độ (cai sữa quá sớm, ăn nhiều chất ngọt hoặc béo quá, no hoặc đói thất thường) làm tỳ vị bị tổn thương; do chăm sóc không đúng cách hoặc không phù hợp với các giai đoạn phát triển sinh lý của trẻ nhỏ làm nguyên khí hao tổn, tân dịch bị tổn thương.

Khi mới mắc, trẻ hơi gầy, kém ăn hoặc ăn nhiều, đi cầu nhiều, phân khi lỏng khi đặc, đầy bụng, có thể sốt nhẹ, miệng khát, lòng bàn chân, bàn tay nóng, người bứt rứt, hay khóc, ngủ không yên, rêu lưỡi hơi vàng, mạch tế hoạt. Nặng hơn trẻ miệng khô, khát nước, sôi bụng, tiêu chảy, có khi táo bón, bụng to, gân xanh nổi lên, nước tiểu đục trắng, rêu lưỡi trắng. Trẻ suy dinh duong lâu ngày làm người gầy, bộ mặt nhăn nheo như người già, tinh thần mệt mỏi, ăn uống kém, tiếng khóc nhỏ, rêu lưỡi mỏng khô, lông tóc khô; kèm theo da khô, loét niêm mạc, loét miệng, lắng đọng sắc tố, tử ban, phù thũng...

Phương pháp điều trị: Trước hết phải tiêu tích (tiêu đồ ăn bị tích trệ), tiếp đến tẩy trùng tích (trừ giun sán), sau đó bổ hư lý tỳ điều vị. Dùng các bài thuốc sau:

Bài 1: “Tiêu cam lý tỳ thang”: tam lăng 2g, thanh bì 4g, lô hội 0,2g, sử quân tử 4g, hoàng liên 4g, thần khúc 6g, nga truật 4g, trần bì 4g, binh lang 2g, cam thảo sống 4g, mạch nha 6g. Sắc 3 lần, hợp lại, chia uống 3 lần trong ngày, nên dùng nước đăng tâm thảo và đại táo làm thang. Dùng khi bệnh mới phát, do tích trệ, phần nhiều thuộc thực chứng.

Bài 2: “Sử quân tử tán”: sử quân tử ngâm, ủ, bóc vỏ lụa và cắt phần đầu nhọn. Tất cả sấy khô, tán bột, ngày uống 2 - 4g, uống lúc đói. Tác dụng tẩy trùng tích (giun sán).

Bài 3: “Sâm linh bạch truật tán”: bạch biển đậu 20g, nhân sâm 40g, bạch linh 40g, bạch truật 40g, cam thảo 40g, hoài sơn 40g, liên nhục 20g, cát cánh 20g, ý dĩ 20g, sa nhân 20g. Tất cả tán bột, ngày uống 3 lần, mỗi lần 4 - 8g tùy theo tuổi. Tác dụng bổ hư điều vị.

Bài 4: “Tập thành hoàn gia giảm”: lô hội 0,8g, ngũ linh chi 4g, dạ minh sa 4g, trần bì 6g, xuyên khung 8g, xuyên quy 8g, mộc hương 6g, sử quân tử 8g, nga truật 6g, hoàng liên 6g, thịt cóc 12g, thanh bì 6g. Tất cả tán nhỏ, trộn với nước mật lợn làm viên, ngày uống 4 - 6g. Chữa chứng cam ở các tạng phủ

Chăm sóc dinh dưỡng cho từng cột mốc phát triển của trẻ

Khi con cất tiếng khóc chào đời, mối quan tâm hàng đầu của cha mẹ là cân nặng, chiều dài nhưng cầm nắm, lật bò, lò dò tập đi, bi bô cười nói; rồi tò mò, khám phá, sáng tạo… và đó là những cột mốc phát triển cũng rất cần được phụ huynh chú ý.

Theo GS.TS.Nguyễn Gia Khánh, Phó chủ tịch Hội Nhi khoa Việt Nam: Từ xưa, ông bà ta đã có câu “3 tháng biết lẫy, 7 tháng biết bò, 9 tháng lò dò biết đi”. Đây chính là những cột mốc cha mẹ dựa vào đó để biết được con mình lớn lên thế nào? Trong khi đó, ngày nay, chúng ta thường đánh giá sự phát triển của trẻ dựa vào chiều cao, cân nặng mà không hiểu thấu đáo cả quá trình phát triển toàn diện thể chất, tâm thần, vận động”.

Đứng trên góc độ của một chuyên gia tâm lý lâm sàng nhi khoa, BS.Hoàng Vũ Quỳnh Trang, Bệnh viện Nhi Đồng 1 TPHCM cho rằng: “Cha mẹ nào chỉ nghĩ đến việc mỗi bữa làm sao nhồi nhét cho trẻ đầy chén cháo mới thành công là sai lầm. Và nếu lại không quan tâm đến những phát triển vận động như: chạy nhảy, cầm nắm hay những vui-buồn, sự tương tác với cha mẹ và môi trường xung quanh… thì những sự chăm sóc “lệch pha” này dễ gây tổn thương đến sự phát triển tâm lý của trẻ”.

Cột mốc phát triển là các hành vi hoặc các kỹ năng thể chất được quan sát ở những em bé sơ sinh và trẻ nhỏ khi chúng lớn lên và phát triển. Tại mỗi cột mốc phát triển, luôn có những giới hạn tuổi trên và dưới để theo đó trẻ có thể đạt được cột mốc đó. Ví dụ, trẻ biết đi sớm nhất là ở 8 tháng tuổi và muộn nhất là 18 tháng tuổi, điều đó được xem là bình thường.

Theo phân tích của các chuyên gia thì rõ ràng, trẻ em không chỉ lớn lên theo độ tuổi mà còn lớn lên theo từng cột mốc. Lấy dấu ấn phát triển nổi trội nhất trong từng giai đoạn làm cơ sở, cùng với việc đặt quyền lợi của trẻ và sự quan tâm, mong mỏi của phụ huynh đối với sự phát triển của con em mình làm mục tiêu, các chuyên gia đã đồng thuận đưa ra cách chia cột mốc phù hợp cả 3 lĩnh vực nhi khoa, tâm lýdinh dưỡng như sau: Mang thai (giai đoạn mang thai), Mau lớn (0 - 6 tháng), Tập đi (6 - 12 tháng), Tò mò (1 - 2 tuổi), Khám phá (2 - 4 tuổi) và Sáng tạo (4 - 6 tuổi).  Những cột mốc phát triển này là cách đánh giá ngắn gọn và tiện lợi mức độ hoặc tỉ lệ phát triển của mỗi đứa trẻ trong một khoảng thời gian.

Rõ ràng, về phương diện chuyển hóa, tất cả các giai đoạn phát triển cần sự thay đổi của tế bào và mô (cơ và xương phát triển, điều hòa sự vận động tự động của hệ cơ, não bộ tăng trưởng và mạng lưới dẫn truyền xung động thần kinh hiệu quả). Tất cả những sự thay đổi này đòi hỏi sự trợ giúp tốt nhất có thể, từ chăm sóc sức khỏe, nuôi dưỡng tốt, cung cấp môi trường học tập đến dinh duong.

Như vậy, sự hòa nhập xã hội từ khi còn là “mầm sống nhỏ nhoi” trong bụng mẹ cho đến lúc sinh ra và lớn lên là cả một quá trình “học hỏi”. Chính giai đoạn đầu đời là khoảng thời gian quan trọng, cốt yếu cho việc hòa nhập xã hội của trẻ. Cha mẹ và những người xung quanh cần tạo cho trẻ những sự trợ giúp tốt nhất có thể và phù hợp với từng cột mốc phát triển để bé yêu luôn phát triển một cách tối ưu nhất.

Thứ Năm, 20 tháng 3, 2014

Phụ nữ mang thai bị thủy đậu rất dễ sẩy thai

Dịch bệnh thủy đậu đang bùng phát mạnh ở Hà Nội, không chỉ trẻ em mà nhiều người lớn cũng mắc bệnh, trong đó có không ít sản phụ đang mang thai.

Theo các chuyên gia sản khoa, phụ nữ mang thai bị bệnh thủy đậu rất dễ bị biến chứng nặng. Biến chứng thường gặp nhất là viêm phổi với khoảng 10-20%, trong số đó tỉ lệ tử vong đến 40%. Bệnh còn có thể lây truyền cho thai qua nhau thai.

Nếu rơi vào 3 tháng đầu, đặc biệt là tuần lễ thứ 8-12 của thai kỳ, nguy cơ thai nhi bị hội chứng thủy đậu bẩm sinh là 0,4%. Biểu hiện thường gặp nhất của hội chứng thủy đậu bẩm sinh là sẹo ở da. Những bất thường khác có thể xảy ra là tật đầu nhỏ, bệnh lý võng mạc, đục thủy tinh thể, nhẹ cân, chi ngắn, chậm phát triển tâm thần. Ngoài ra, có thể gây sẩy thai hoặc thai chết lưu.

Trong 3 tháng giữa, đặc biệt là tuần 13-20 của thai kỳ, nguy cơ thai nhi bị hội chứng thủy đậu bẩm sinh là 2%. Sau tuần lễ thứ 20 của thai kỳ, hầu như không ảnh hưởng đến thai nhi.

Nếu người mẹ nhiễm bệnh trong vòng 5 ngày trước sinh và 2 ngày sau sinh, bé sơ sinh dễ bị bệnh thủy đậu lan tỏa do mẹ chưa có đủ thời gian tạo kháng thể truyền cho thai nhi trước sinh. Tỉ lệ bé sơ sinh tử vong lúc này là 25-30% số trường hợp bị nhiễm.

Khi mắc bệnh thủy đậu, thai phụ cần được nghỉ ngơi, uống nhiều nước, ăn thức ăn lỏng dễ tiêu hóa. Nếu sốt, có thể dùng thuốc hạ sốt paracetamol. Cần giữ vệ sinh thân thể, tránh làm vỡ những bóng nước vì có nguy cơ bội nhiễm. Vì nguy cơ cao do biến chứng của bệnh thủy đậu, các thai phụ khi mắc bệnh cần được khám và điều trị theo chỉ dẫn của bác sĩ.

Cách tốt nhất là phụ nữ chưa tiêm phòng vaccine hay chưa bị mắc thủy đầu lần nào trước khi mang thai nên tiêm phòng vaccine thủy đậu.

Thứ Tư, 19 tháng 3, 2014

Thực phẩm cần có trong thực đơn của bà bầu bị tiểu đường

Các loại thực phẩm rất có ích trong việc giúp bà bầu giảm lượng đường trong máu.

Trong thai kỳ, nếu chẳng may bị tiểu đường, mẹ bầu phải đối mặt với nhiều nguy cơ ảnh hưởng đến sức khỏe thai nhi và bản thân như: tăng huyết áp, viêm bể thận, biến chứng thai kỳ, nhiễm khuẩn, nhiễm trùng hậu sản, viêm tuyến vú… Ngoài ra, khả năng vỡ ối và sinh non của những mẹ bầu mắc chứng tiểu đường cao gấp 10  lần so với các bà mẹ bình thường khác.

Vì vậy, ngoài việc chú ý giữ gìn sức khỏe, tăng cường rèn luyện thân thể, mẹ bầu bị tiểu đường hoặc có lượng đường trong máu cao hơn bình thường cần đặc biệt quan tâm đến chế độ ăn uống của mình. Những thực phẩm dưới đây được các bác sĩ đánh giá là tốt và phù hợp với chế độ dinh duong cho ba bau bị tiểu đường.

Khoai lang
Khoai lang có tác dụng hạ đường huyết và kiểm soát hiệu quả lượng đường trong máu. Bên cạnh đó, ăn khoai lang cũng giúp mẹ bầu nhuận tràng, giảm thiểu nguy cơ bị táo bón thai kỳ.

Hành tây tím
Trong hành tây tím có chứa nhiều hóa chất tự nhiên có tác dụng cao trong việc hạ đường huyết, giảm mỡ máu, chống viêm, chống hen suyễn… Hành tây tím có thể ăn sống hoặc chế biến thành nhiều món ăn khác nhau.

Rong biển
Hàm lượng vitamin, protein, carotein… trong rong biển tương đối phong phú, đặc biệt chứa rất ít đường nên có tác dụng hạ đường huyết, giảm lượng đường trong máu. Rong biển có thể chế biến thành nhiều món chay, mặn khác nhau. Đặc biệt, rong biển nấu canh rất tốt cho sức khỏe bà bầu.

Cà rốt
Cà rốt có nhiều beta carotin, vitamin B9, carotene và vitamin B1, vitamin B2, vitamin C, protein, chất béo, chất xơ thô, sắt, canxi, phốt pho… Một củ cà rốt cỡ trung bình có 19mg canxi, 32mg photpho, 233mg kali, 7mg vitamin C, 7gr carbonhydrat, 5gr đường, 2gr chất xơ, 1gr chất đạm, 6000mcg vitamin A, 40 calori, không có chất béo hoặc cholesterol. Vì thế, không những chữa trị hiệu quả chứng táo bón trong thai kỳ mà cà rốt còn có tác dụng hạ huyết áp, rất có lợi cho mẹ bầu bị tiểu đường. 

Cà rốt có thể chế biến theo nhiều cách: xào, nấu, ngâm dấm… hoặc làm thành sinh tố, nước ép cũng rất ngon.

Mộc nhĩ
Mộc nhĩ chứa nhiều polysaccharides có tác dụng hạ đường huyết. Ngoài ra, hàm lượng protein , carotene, vitamin, chất sắt , natri, kali, canxi và các khoáng chất khác trong mộc nhĩ cũng tương đối cao nên không chỉ giúp giảm lượng đường trong máu mà còn giúp cơ thể hấp thụ các chất dinh dưỡng khác tốt hơn.

Mướp đắng
Theo các nghiên cứu lâm sàng gần đây, mướp đắng (hay còn gọi là khổ qua) rất có giá trị trong việc chữa trị cao huyết áp. Mướp đắng tươi có thể sử dụng chế biến món ăn hoặc phơi khô để uống trà. Tuy vậy, mẹ bầu cũng không nên ăn quá nhiều mướp đắng vì có tính hàn.

Thứ Năm, 13 tháng 3, 2014

Chống rạn da bằng dinh dưỡng cho bà bầu

Hầu hết các chị em phụ nữ khi mang thai đều gặp phải vấn đề rạn da, nguyên nhân gây ra rạn da chủ yếu là do tăng cân quá nhanh.Ngoài ra, một số yếu tố dinh dưỡng, chế độ sống cũng có thể làm mô liên kết dưới da (được tạo ra bởi collagen và elastin) bị suy giảm, đứt gãy. Bởi vậy, một lối sống lành mạnh và chế độ dinh dưỡng cho bà bầu thích hợp cũng sẽ góp phần giúp thai phụ giảm rạn da.
dinh dưỡng cho bà bầu

Không nên ăn cho 2 người
Các bà mẹ khi mang thai đều mang tâm lý phải ăn cho 2 người, ăn càng nhiều, con càng có đầy đủ dưỡng chất để phát triển, điều này sẽ làm bạn tăng cân chóng mặt và kết quả là da xuất hiện những vết rạn.Thực tế, bà bầu chỉ cần ăn thêm khoảng 500 calo mỗi ngày là đủ.

Do đó, để khỏe mạnh bạn nên lựa chọn những thực phẩm giàu dinh dưỡng nhưng không tăng cân nhanh như rau xanh, hoa quả, ngũ cốc, thịt. Việc tăng cân dần dần sẽ giúp hạn chế được da bị căng đột ngột, tránh tình trạng rạn da ở phụ nữ mang thai. Bạn nên tránh chọn thức ăn nhanh, đồ hộp bởi chúng không cung cấp đầy đủ chất dinh dưỡng cho bà bầu mà còn làm bà bầu mất cân bằng dinh dưỡng và tăng cân nhanh.

Lựa chọn thực phẩm tốt cho da:
Chế độ ăn uống lành mạnh, cân bằng giúp mẹ bầu có đủ vitamin và dinh dưỡng giúp cải thiện độ đàn hồi của da, ngăn ngừa vết rạn da hình thành. Bạn nên thêm các thực phẩm sau vào chế độ ăn hàng ngày:

- Thực phẩm giàu chất chống oxy hóa giúp nuôi dưỡng, bảo vệ da như rau chân vịt, dâu tây, trái cây, rau tươi..
- Thực phẩm chứa vitamin E giúp bảo vệ màng tế bào da bao gồm các loại hạt, bơ, bông cải xanh, rau xanh.
- Thực phẩm chứa vitamin A giúp sửa chữa các mô da: Cà rốt, khoai lang, bí, ớt chuông đỏ
.- Thực phẩm chứa omega 3 giúp giữ màng tế bào khỏe mạnh, làm sáng da như cá, dầu cá, óc chó, trứng, hàu.

Uống nhiều nước:
Độ đàn hồi, mềm mại của da phụ thuộc vào lượng nước bạn cung cấp cho da mỗi ngày. Nếu thường xuyên để mất nước da sẽ khô, cấu trúc dễ bị phá cỡ dẫn đến rạn nứt.

Các bà bầu nên uống khoảng 3 – 4 lít nước (tương đương với 10 - 12 cốc nước) mỗi ngày. Nếu là mùa hè thì cần uống thêm 1 - 2 ly nữa (11 - 13 cốc) để bù lại lượng nước bị thất thoát qua đường mồ hôi.

Tập thể dục khi mang thai
Tập thể dục giúp không chỉ giúp bạn tránh được tình trạng tăng cân quá nhiều, có vóc dáng thon gọn mà còn giúp bạn duy trì độ đàn hồi của da, có một làn da khỏe mạnh hơn. Với phụ nữ mang thai thì chỉ nên tập các môn nhẹ nhàng như các bài tập kegel, yoga, bơi lội sẽ giúp cơ thể khỏe mạnh, tránh mệt mỏi và giúp da săn chắc.

Bôi kem chống rạn da
Để tăng cường hiệu quả chống rạn, bạn có thể chọn các loại kem có công dụng dưỡng ấm và chống rạn. Kem chống rạn có thành phần dưỡng ẩm giúp da mềm mại, collagen và elastin giúp da tăng độ đàn hồi, phục hồi và chống rạn. Kết hợp việc ăn uống (bổ trong) với kem chống rạn da (bôi ngoài) sẽ tạo hiệu ứng cộng hưởng giúp bạn chăm sóc da tốt nhất.

Chế độ dinh dưỡng cho người gầy

Trong khi nhiều người vật lộn với việc kiểm soát cân nặng, ăn uống, tập luyện làm sao để không bị tăng cân thì lại có rất nhiều người muốn làm thế nào để tăng cân nhanh chóng. Tuy nhiên tăng cân không phải là việc dễ dàng. Sau đây là chế độ dinh dưỡng cho người gầy để có thề giúp bạn tăng cân hiệu quả.

Để có thể tăng cân, bạn cần được ăn uống đủ chất, thực phẩm đưa vào cơ thể cần đảm bảo đủ 4 nhóm dưỡng chất: đạm, tinh bột, chất béo, vitamin và chất khoáng. Đó là nền tảng tốt nhất cho một quá trình tăng cân bền vững và cơ thể khỏe mạnh. Bạn cần ăn thêm 1-3 bữa phụ. Các bữa này xen kẽ các bữa chính với cốc sữa, bát chè, củ khoai... Nếu không dị ứng với loại thức ăn nào, bạn nên dùng nhiều loại thực phẩm trong ngày.
dinh dưỡng cho người gầy

Để có chế độ dinh dưỡng cho người gầy tốt, người gầy cần ăn đa dạng các loại thức ăn để cung cấp cả đạm động vật, thực vật, bạn cũng cần ăn nhiều rau, trái cây... để bổ sung các chất xơ, vitamin hỗ trợ quá trinh tiêu hóa; không ăn vặt ngay trước bữa chính; hạn chế ăn đồ ăn nhanh thay bữa chính; không bỏ bữa, đặc biệt bữa sáng. Nếu không ăn được nhiều, bạn có thể dùng nhiều món trong cùng một bữa. Chẳng hạn sau bữa chính bạn có thể dùng thêm nửa ly sữa hoặc trái cây. Bạn có thể bổ sung hàng ngày một loại thực phẩm chức năng cực kỳ giàu dưỡng chất mà hoàn toàn tự nhiên là Tảo Mặt trời Spirulina. Với những người gầy, Tảo Mặt trời chắc chắn sẽ là một giải pháp toàn diện, vì nó có thành phần dinh dưỡng và bổ sung nhiều khoáng chất cho cơ thể. Bên cạnh đó các loại hạt cũng là nguồn cung cấp protein không thể thiếu cho cơ thể.

Ngoài chế độ dinh dưỡng hợp lý, những người gầy cũng cần đi khám sức khỏe định kỳ, vì nếu mắc một số bệnh như rối loạn tiêu hóa, nhiễm kí sinh trùng, rối loạn cân bằng hoóc môn hoặc mắc một bệnh mạn tính nào đó... cũng là nguyên nhân làm cân nặng không tăng. Nếu có dấu hiệu bị một trong những bệnh này, những người gầy nên đi khám chuyên khoa và điều trị triệt để nhằm giúp cân nặng tăng tốt hơn.

Chế độ sinh hoạt cho người gầy cũng ảnh hưởng nhiều đến cân nặng, nếu bạn thường ngủ ít (ngủ không đủ 7-8 tiếng/ ngày) và đi ngủ muộn, uống nhiều cà phê, không ăn điều độ 3 bữa/ngày, có thói quen bỏ bữa sẽ dẫn đến tình trạng ăn không đủ lượng calo cần thiết trong ngày, ăn vặt thường xuyên, thì cần thay đổi lại để cải thiện cân nặng. Ngoài ra người gầy muốn tăng cân nên tăng cường tập luyện thể dục thể thao để tăng cường sức khỏe và giúp tiêu hóa thức ăn tốt hơn.

Bổ sung các loại vitamin và khoáng chất cũng là một việc rất cần thiết để tăng cân. Tuy nhiên bạn nên theo chỉ dẫn của bác sĩ để tránh những thuốc gây dị ứng hoặc phản ứng phụ, ảnh hưởng đến sức khỏe của bạn

Chế độ dinh dưỡng hằng ngày

Dinh dưỡng là việc cung cấp các chất cần thiết (theo dạng thức ăn) cho các tế bào và các sinh vật để hỗ trợ sự sống. Nhiều vấn đề sức khỏe có thể được ngăn ngừa hoặc giảm nhẹ nếu có một chế độ ăn uống khỏe mạnh.

Chế độ ăn uống nghèo nàn có thể dẫn đến tác động bất lợi tới sức khỏe, gây ra các bệnh như scurvy, chứng suy dinh dưỡng ở trẻ em, các vấn đề đe dọa tới sức khỏe như béo phì, hội chứng trao đổi chất và các bệnh mãn tính có hệ thống như bệnh tim mạch, tiểu đường và loãng xương. Một chế độ dinh dưỡng đầy đủ chất và khoa học là nền tảng cho một cơ thể khỏe mạnh.

Dưới đây là 1 số chất dinh dưỡng thiết yếu nhất bạn cần bổ sung hàng ngày:

1) Protein:
Protein là thành phần dinh dưỡng quan trọng nhất, chúng có mặt trong thành phần của nhân và chất nguyên sinh cửa các tế bào. Quá trình sống là sự thoái hóa và tân tạo thường xuyên của protein. Vì vậy, hàng ngày cần ăn vào một lượng đầy đủ protein.

Protein có liên quan đến mọi chức năng sống của cơ thể (tuần hoàn, hô hấp, sinh dục, tiêu hóa, bài tiết hoạt động thần kinh và tinh thần...). Protein cần thiết cho chuyển hóa bình thường các chất dinh dưỡng khác, đặc biệt là các vitamin và chất khoáng. Khi thiếu protein, nhiều vitamin không phát huy đầy đủ chức năng của chúng mặc dù không thiếu về số lượng. Protein còn là nguồn năng lượng cho cơ thể, thường cung cấp 10%-15% năng lượng của khẩu phần.

Thiếu protein gây ra các rối loạn quan trọng trong cơ thể như ngừng lớn hoặc chậm phát triển, mỡ hóa gan, rối loạn hoạt động nhiều tuyến nội tiết (giáp trạng, sinh dục), thay đổi thành phần protein máu, giảm khả năng miễn dịch sinh học của cơ thể và tăng tính cảm thụ của cơ thể với các bệnh nhiễm khuẩn.

Trung bình cơ thể cần bổ sung 50g protein mỗi ngày (Dựa trên lượng calo 2000/ngày).

2) Lipit:
Thành phần chính là triglyxerit là những hợp chất hữu cơ phức tạp gồm rượu bậc 3 glyxerol và các axit béo no, chưa no. Các axit béo là thành phần quyết định tính chất cửa lipit. Các axit béo no hay gặp là butirie, capric, CAPRILIC, LORIC, MYRISTIC, PANMITIE, STEARIC.Mỡ động vật thường có nhiều axit béo no, các loại mỡ lỏng và dầu ăn có nhiều axit béo chưa no. Photphatit và sterol cũng là những thành phần lipit quan trọng.

Lipit là nguồn năng lượng cho cơ thể, 1g chất béo cho 9 Kcal. Thức ăn giàu lipit là nguồn năng lượng đậm đặc cần thiết cho người lao động nặng, cần thiết cho thời kì phục hồi dinh dưỡng đối với người ốm.

Photphatit là thành phần cấu trúc tế bào thần kinh, não, tim, gan, tuyến sinh dục... tham gia vào quá trình dinh dưỡng của tế bào nhất là tính thấm của màng tế bào. Ðối với người trưởng thành photphatit là yếu tố quan trọng điều hòa chuyển hóa cholesterol. Trong khi đó cholesterol là tiền chất của axit mật tham gia vào quá trình nhũ tương hóa,  tham gia tổng hợp các nội tố vỏ thượng thận (coctizon, testosterol, andosterol, nội tố sinh dục, vitamin D3), liên kết các độc tố tan máu (saponin) và các độc tố tan máu của vi khuẩn, kí sinh trùng. Tuy nhiên cholesterol là 1 trong những tác nhân gây ra vữa xơ động mạch, một số khối u ác tính. Vì thế cần cân nhắc thận trọng các trường hợp dùng thức ăn giàu cholesterol đối với các bệnh nhân có liên quan tới các bệnh kể trên (hàm lượng cholesterol không được cao hơn 300mg/ngày).

Tỉ lệ thích hợp để hấp thụ khi axít béo chưa no trong khẩu phần là 4% tổng số axit béo. Tức là mỗi ngày tiêu thụ 65g chất béo thì axít béo chưa no là 20g.

3) Gluxit:
Ðối với người vài trò chính của gluxit là sinh năng lượng. Hơn một nửa năng lượng của khẩu phần do gluxit cung cấp, 1g gluxit khi đốt cháy trong cơ thể cho 4 kcal. Ở gan, glucoza được tổng hợp thành glycogen. Gluxit ăn vào trước hết chuyển thành năng lượng, số dư một phần chuyển thành glycogen và một phần thành mỡ dự trữ.

ở mức độ nhất định, gluxit tham gia tạo hình như một thành phần của tế bào và mô. Trong cơ thể luôn luôn xẩy ra quá trình phân giải gluxit để tạo năng lượng nhưng hàm lượng gluxit máu luôn luôn ở mức 80-120 Mg%. ăn uống đầy đủ gluxit sẽ làm giảm phân hủy protein đến mức tối thiểu. Ngược lại khi lao động nặng nếu cung cấp gluxit không đầy đủ sẽ làm tăng phân hủy Protein. Ăn uống quá nhiều, gluxit thừa sẽ chuyển thành lipit và đến mức độ nhất định sẽ gây ra hiện tượng béo phệ.

4) Vitamin:
Nhiều vitamin là cấu tử của các men cần thiết cho quá trình chuyển hóa vật chất trong cơ thể. Phần lớn các vitamin phái đưa từ thức ăn vào cơ thể, chúng thuộc nhóm chất cần thiết cho cơ thể tương tự như axit min cần thiết. Người ta chia các vitamin thành 2 nhóm:

• Nhóm vitamin tan trong chất béo: Là vitamin A,D,E,K thường đi kèm với chất béo của thức ăn. Một khẩu phần có hàm lượng lipit thấp thường ít các vitamin này hoặc cơ thể kém sử dụng các vitamin này.

• Nhóm vitamin tan trong nước: Bao gồm vitamin nhóm B, vitamin C, vitamin P, Vitamin U. Cơ thể dễ dàng được thỏa mãn nhu cầu các vitamin này khi dùng thức ăn tươi.

Dưới đây giới thiệu một số vitamin quan trọng nhất trong dinh dưỡng học.

a) Vitamin A:
Vitamin A có vai trò quan trọng đối với chức phận thị giác. Andehyt của retinol là thành phần thiết yếu của sắc tố võng mạc Rodopsin. Khi gặp ánh sáng sắc tố này mất màu và quá trình này kích thích CÁC TẾ BÀO QUE ở võng mạc để nhìn thấy ánh sáng yếu. Khi mắt nghỉ, vitamin A dần dần được phục hồi từ retinen nhưng không hoàn toàn.

Khi thiếu vitamin A, da và niêm mạc khô, sừng hóa, vi khuẩn dễ xâm nhập gây viêm nhiễm. Đó là các biểu hiện khô mắt, khô giác mạc. Thiếu vitamin A LÀM GIẢM TỐC ÐỘ TĂNG trưởng, giảm sức đề kháng của cơ thể đối với bệnh tật và tăng tỷ lệ tử VONG Ở TRẺ em.

Nhu cầu vitamin A ở trẻ em là 300 MCG và ở người trưởng thành là 750 MCG. Trẻ em khi đẻ ra đã có nguồn vitamin A dự trữ trong gan sau đó là nguồn vitamin A trong sữa mẹ do đó cần quan tâm đến chế độ ăn của người mẹ khi có thai và cho con bú.

b) Vitamin D:
Vai trò chính của Vitamin D là tăng hấp thu canxi và photpho ở ruột non. Nó cũng có tác dụng trực tiếp tới quá trình cốt hóa. Như vậy, vitamin D là yếu tố chống còi xương và kích  thích sự tăng trưởng của cơ thể.

Nhu cầu đề nghị là 10 MCG ở trẻ em, người trưởng thành nếu điều kiện sống thiếu ánh sáng nên có 2,5 MCG mỗi ngày.

c) Vitamin B1 (tiamin):
Tiamin dưới dạng tiamin pirophotphat là coenzim của men carboxylaza, men này cần cho phản ứng khử carboxyn của axit xetonic (axit pyruvic, axit - xetoglutaric ). Khi thiếu vitamin B1 axit pyruvic sẽ tích lũy trong cơ thể gây độc cho hệ thống thần kinh. Vì thế nhu cầu via min B1 đối với cơ thể tỉ lệ thuận với nhu cầu năng lượng.

Vitamin B1 tham gia điều hòa quá trình dẫn truyền các xung tác thần kinh do nó ức chế khử axetyl-cholin. Do đó khi thiếu vitamin Bi gây ra hàng loạt các rối loạn có liên quan tới các rối loạn dẫn truyền thần kinh như tê bì, táo bón, hồi hộp, không ngon miệng. Đó là các dấu hiệu của bệnh Beriberi.

Nhu cầu vitamin B1 cần đạt là 0,40 mg/ 1000Kcalo. Khi lượng đó thấp hơn 0,25 mg/1000Kcalo, bệnh tê phù có thể xảy ra.

d) Vitamin B2 (Riboflavin):
Riboflavin là thành phần của nhiều hệ thống men tham gia chuyển hóa trung gian. Vitamin B2 cần cho chuyển hóa protein, khi thiếu một phần các axit min của thức ăn không được sứ dụng và ra theo nước tiểu. Ngược lại khi thiếu protein, quá trình tạo men flavoprotein bị rối loạn. Vì vậy khi thiếu protein thường xuất hiện triệu chứng thiếu vitamin B2.

Ngoài ra vitamin B2 có ảnh hưởng tới khả năng cảm thụ ánh sáng của mắt nhất là đối với sự nhìn màu. Khi thiếu vitamin B2 sẽ có tổn thương ở giác mạc và nhân mắt. Riboflavin có nhiều trong các lá xanh, đậu đỗ, phủ tạng của động vật. Nhu cầu vitamin B2 là 0,55mg/1000 Kcalo.

e) Vitamin C (Axit Ascorbie):
Vitamin C tham gia nhiều quá trình chuyển hóa quan trọng. Trong quá trình oxy hóa khử, vitamin C có vai trò như một chất vận chuyển H+. Vitamin C còn kích thích tạo colagen của mô kiên kết, sụn, xương, răng, mạch máu. Vì thế khi thiếu Vitamin C. Các triệu chứng thường biểu hiện ở các tổ chức liên kết và xương (xuất huyết dưới da, chảy máu chân răng, đau mỏi xương khớp).  Vai trò của vitamin C liên quan tới chức phận của các cơ quan này như kích thích sự phát triển ở trẻ em, phục hồi sức khỏe, vết mau lành, tăng sức bền mao mạch, tăng khả năng lao động, sự dẻo dai và tăng sức kháng nhiễm.

Vitamin C rất dễ tan trong nước, do đó trong quá trình chế biến cần lưu ý để tránh sự hao hụt không cần thiết và tận dụng các phần nước của thức ăn. Lượng vitamin C cần thiết hàng ngày là 30 mg/ngày.

f) Vitamin PP (Nia xin, axit nieotinic):
Tất cả các tế bào sống đều cần ma xin và dẫn xuất của nó. Chúng là thành phần cốt yếu của 2 coenzim quan trọng chuyển hóa gluxit và hô hấp tế bào là Nicotinamit Adenin Dinucleotit (Nad-coenzim I) và Nicotinamit Adenin Dinucleotit photphat (NADP-COENZIMII). Vai trò chính của NAD VÀ NADP là chuyển H+ từ một cơ chất tới một coenzim hay một cơ chất khác. Như vậy có sự tham gia phối hợp của riboflavin và nia xin trong các phản ứng hô hấp tế bào. Trong cơ thể, tryptophan có thể chuyển thành axit nicotinic. Quá trình này xảy ra ở ruột và gan và bị cản trở khi thiếu piridoxin. Cứ 60mg tryptophan cho 1 mg axit nicotinic.

Thiếu nia xin và tryptophan là nguyên nhân của bệnh Pellagra. Các biểu hiện chính của bệnh là viêm da nhất là vùng da tiếp xúc ánh nắng mặt trời, viêm niêm mạc, ỉa chảy, có các rối loạn về tinh thần. Thịt gia cầm, bò, lợn nhất là phủ tạng chứa nhiều vitamin PP. Lớp ngoài của các hạt gạo, ngô, mì, đậu lạc vừng rất giàu vitamin PP.

Nhu cầu vitamin PP đề nghị là 6,6 đường lượng/1000 Kcalo.

5) Các chất khoáng:
Chất khoáng là một nhóm các chất cần thiết không sinh năng lượng nhưng giữ vai trò trong nhiều chức phận quan trọng đối với cơ thể. Cơ thể người ta có gần 60 nguyên tố hóa học. Một số chất có hàm lượng lớn trong cơ thể được xếp vào nhóm các yếu tố đa lượng (macroelements), số khác có hàm lượng nhỏ được xếp vào nhóm các vi yếu tố (microelements). Các yếu tố đa lượng là Ca (1,5%), P (L%), MG (0,05%), K (0,35%), NA (0,15%) ; Các yếu tố vi lượng là I, F, Cu, Co, Mn, Zn... còn gọi là yếu tố vết. Lượng tro của một người trưởng thành khoảng 2 kg tương đương 4% trọng lượng cơ thể. Khoảng một nửa đường chất khoáng đó là yếu tố tạo hình của các tổ chức xương và tổ chức mềm, phần còn lại nằm trong các dịch thể.

Vai trò dinh dưỡng của các chất khoáng trong cơ thể rất đa dạng và phong phú: Các muối photphat và cacbonat của canxi, ma giê là thành phần cấu tạo xương, răng, đặc biệt cần  thiết ở trẻ em, phụ nữ nuôi con bằng sửa. Khi thiếu canxi, xương trở nên xốp, mô liên kết biến đổi. Quá trình này xẩy ra ở trẻ em làm xương bị mềm, biến dạng (còi xương). Những thay đổi này trở nên nghiêm trọng khi kèm theo thiếu vitamin D. Ngoài ra, canxi còn tham gia điều hòa quá trình đông máu và giảm tính kích thích thần kinh cơ. Ngoài việc tạo xương, photpho còn tham gia tạo các tổ chức mềm (não, cơ ). Photpho là thành phần của một số men quan trọng tham gia chuyển hóa protein, lipit, gluxit, hô hấp tế bào và mô, các chức phận của cơ và thần kinh. Ðể đốt cháy các chất hữu cơ trong cơ thể mọt phân tử hữu cơ đều phải qua giai đoạn liên kết với photpho.

Một số chất khoáng tham gia thành phần một số hợp chất hữu cơ có vai trò đặc biệt. Sắt với hemoglobin và nhiều men oxy hóa trong hô hấp tế bào, thiếu sắt gáy thiếu máu. Iot với tiroxin là hormon của tuyến giáp trạng, thiếu Iot là nguyên nhân bệnh bướu cổ địa phương. Cu, Co là các chất tham gia vào quá trình tạo máu. Na tri còn tham gia vào điều hòa chuyển hóa nước, có ảnh hưởng tới khả năng giữ nước của các protein, đậm độ Na+ thay đổi dẫn đến cơ thể mất nước hay giữ nước.

Nhu cầu hàng ngày của cơ thể đối với 1 số chất khoáng cụ thể là: Fe là 24 - 28 mg/ngày , Ca là 400-500 mg/ngày (đối với ngườ lớn) và 1000 - 1200 mg/ngày (đối với phụ nữ có tháng 3 tháng cuối và cho con bú), I: 0,1 – 0,14 mg/ngày, Zn: 2,2 mg/ngày, Mg: 200-300 mg/ngày.

Chăm sóc phụ nữ mang thai

Muốn được mẹ tròn con vuông
Mẹ khoẻ thì con khoẻ, đó là điều dễ hiểu. Nếu bạn có ý muốn thụ thai và sinh con, nên theo một số lời khuyên sau, để bảo đảm sức khoẻ cho bé ngay từ những ngày đầu, mới ra đời. Vậy làm thế nào để đảm bảo sức khỏe cho mẹ và bé?

Bạn có thể tham khảo cách thức chăm sóc phụ nữ mang thai dưới đây để đảm bảo me và bé đều khỏe mạnh trước và sau khi sinh.
mang thai

• Hỏi bác sĩ cẩn thận trước khi dùng bất cứ loại thuốc gì kể cả các loại vitamin và các loại thuốc thành phần kim loại

• Trong 3 tháng đầu thời kỳ mang thai, không nên tăng cân quá từ 1-1,4 kg. Từ tháng thứ 4, mỗi tuần có thể tăng 0,350 kg. Tổng số cân tăng từ 10 kg tới 12,2 kg là vừa (24-27 pounds).

• Tiếp tục tập thể dục hàng ngày, dù đã mang thai, việc luyện tập thân thể vẫn có ích và giúp cho người phụ nữ khỏi các chứng nhức, mỏi người và nhiều chứng khác nữa. Những môn tập như yoga, bơi, đi bộ hoặc vận động chậm đều tốt. Nếu bạn chưa từng luyện tập bao giờ thì nên hỏi qua bác sĩ chăm sóc mình nên tập thế nào cho vừa sức và hợp với người có thai như:

 Chỉ nên tập sau bữa ăn 2 giờ.

 Trước khi tập, uống 1-2 ly nước.

 Không tập những bài tập có động tác nhảy, vận mình hoặc cử động nhanh.

 Tập sao để giữ nhịp tim dưới 140 đập/phút.

 Không bị kích động vì luyện tập.

 Sau tháng thứ 4, tránh các bài tập có động tác nằm ngửa.

 Sau khi tập quá 2 giờ mà vẫn thấy mình mỏi mệt, nên tới thăm bác sĩ.

• Thực hành các bài tập thư giãn cơ thể và thần kinh để tránh stress. (Nhiều bác sĩ nghĩ rằng hiện tượng stress do cảm xúc làm máu không tới đều và không cung cấp đủ cho dạ con và thai nhi. Bởi vậy, cái thai bị thiếu oxy và chất dinh dưỡng).

• Giữ cho tâm trí thoải mái. Phụ nữ mang thai phải chủ động tự điều hoà tâm trạng, giữ cho mình luôn thanh thản, lạc quan, không quá buồn rầu chán nản, cũng không quá phấn chấn hay sợ hãi. Gia đình phải tạo cho họ môi trường sống thuận lợi, êm ấm và vui tươi.

• Ăn uống điều độ và hợp lý. Thai phụ cần được cung cấp nhiều chất dinh dưỡng hơn người bình thường, nhưng không nên gặp gì ăn nấy. Cần chọn những thực phẩm thanh đạm và dễ tiêu; kiêng những thứ quá béo, quá ngọt hoặc các đồ sống, lạnh, vì những thức ăn này dễ làm hại đến tỳ vị, ảnh hưởng không tốt đến thai nhi. Tránh các thực phẩm có caphêin, rượu, nicotin và các loại ma tuý. Đối với phụ nữ mang thai, điều đáng kiêng kỵ nhất là ăn uống quá no nê. Phải ăn nhạt, tránh những thứ quá nóng hoặc quá lạnh, giữ cho khí huyết thanh khiết, dịu êm. Như vậy, thai sẽ yên ổn, con sinh ra sẽ khoẻ mạnh.

• Nên đăng ký theo học lớp chỉ dẫn về vấn đề sinh đẻ.

• Nếu nhà nuôi mèo, phải chú ý không để mèo ỉa bừa bãi. Phân mèo có thể gây một loại bệnh có tên là toxoppalsmosis. Người mang thai nhiễm bệnh này có thề sinh con thiếu tháng và đứa trẻ dễ bị tổn thương ở não, mắt và các bộ phận khác.

• Nên đi khám thai định kỳ 4 tuần/lần cho tới khi thai được 28 tuần tuổi. Sau đó là 2 tuần/lần cho tới khi thai được 36 tuần tuổi.

• Những động tác massage cơ bản cũng đủ để cô ấy thấy thoải mái và thư giãn hơn. Chú ý đến mắt cá chân vì trong quá trình mang thai do ứ nước nên mắt cá chân hay sưng to.

• Tránh tiếp xúc với khói thuốc lá, khói bếp, thuốc trừ sâu, thuốc bảo vệ thực vật và các chất độc hại để bảo vệ sức khoẻ bà mẹ và thai nhi.

• Không nên đi giầy, guốc có đế cao.  Mặc quần áo rộng rãi, thoải mái, chất liệu dễ thấm nước.

• Lau rửa đầu vú hàng ngày giúp cho tuyến sữa của vú phát triển đều để sau khi đẻ trẻ có thể bú ngay. Luôn giữ sạch bộ phận sinh dục để tránh nhiễm trùng. Tránh bơm rửa trong âm đạo

Thứ Sáu, 7 tháng 3, 2014

Bạn đã có kế hoạch làm đẹp sau sinh cho mình ?

Care with Love – Mang thai và sinh nở vốn là thiên chức thiêng liêng của người phụ nữ, nhưng để có niềm hạnh phúc lớn lao đó người mẹ cũng phải trải qua một quá trình vô cùng vất vả. Sau 9 tháng 10 ngày cùng quá trình “vươt cạn” mất nhiều sức lực, mỗi người phụ nữ đều xứng đáng được chăm sóc nâng niu, hồi phục sức khỏe và vóc dáng, để có thể tiếp tục chăm sóc gia đình nhỏ của mình. Vì vậy, bạn phải nhanh chóng lên cho mình một kế hoạch làm đẹp sau sinh ngay từ hôm nay

Massage: Trong kế hoạch làm đẹp sau sinh không thể thiếu massage sau sinh, bởi ngày nay việc lựa chọn phương pháp massage để phục hồi sức khỏe và vóc dáng, được rất nhiều chị em lựa chọn. Các mẹ có thể tự massage hoặc có thể sử dụng các dịch vụ làm đẹp sau sinh, tuy nhiên việc massage còn phụ thuộc vào sức khỏe và thể trạng của từng mẹ, đặc biệt là các mẹ đang có dấu hiệu của các bệnh như: nhiễm trùng tử cung, nhiễm trùng ngực, viêm vú, hay gặp phải chứng huyết khối tĩnh mạch sâu… thì nên thăm khám và tham khảo ý kiến của bác sỹ trước khi massage.
làm đẹp sau sinh

Các chuyên gia về chăm sóc sức khỏe sinh sản hàng đầu của Mỹ cũng đã chứng minh được rằng massage thường xuyên và đúng kỹ thuật sẽ đem lại rất nhiều lợi ích cho các mẹ sau khi sinh như giảm bớt các triệu chứng đau, mệt mỏi, căng thẳng sau khi sinh đồng thời giúp mẹ giảm béo rất hiệu quả.

Massage sau sinh giúp cơ thể nhanh chóng khôi phục lại vóc dáng trước khi mang thai, massage tác động sâu tới hệ bạch huyết giúp tăng lưu thông máu trong cơ thể giúp giảm mệt mỏi và đau nhức.

Massage giúp tử cung về vị trí ban đầu, massage vùng xương hông giúp đưa các cơ xương trở lại vị trí cũ như trước khi mang thai. Các động tác massage sau sinh đúng cách kết hợp với sản phẩm phù hợp sẽ có tác dụng đánh tan những lớp mỡ thừa trong cơ thể; cung cấp vitamin, khoáng chất giúp làm săn chắc da và hạn chế tối đa hiện tượng chảy xệ sau sinh.

Massage sau sinh sẽ giúp phụ nữ giảm đau và sưng sau quá trình sinh nở, ngoài ra trị liệu nóng kết hợp với các thảo dược có nguồn gốc từ thiên nhiên là một trong những cách mang đến hiệu quả diệu kỳ.

Việc massage quanh vùng ngực còn có tác dụng kích thích các tuyến tạo sữa và làm nở rộng mạch dẫn sữa, giúp sữa ra nhiều và đều hơn, giảm hiện tượng tắc sữa.

Massage sau sinh kết hợp với xông hơi không chỉ giúp đẩy nhanh quá trình giảm mỡ thừa mà còn mang lại những khoảnh khắc thư giãn vô cùng quí giá, giúp các bà mẹ mới sinh thư thái tinh thần, giải tỏa căng thẳng sau khi sinh và dần đưa cơ thể trở lại trạng thái khỏe mạnh trước khi mang thai.
làm đẹp sau sinh

Những điều trong khi massage sau sinh mà các mẹ nên lưu ý:
Tư thế nằm khi massage thường là nằm ngửa và nằm sấp ; khi nằm sấp các mẹ cần kê gối ở bên trên và bên dưới vùng ngực để không gây áp lực lên toàn bộ vùng ngực.

Các khu vực cần được chú ý đặc biệt là: cổ, vai, lưng, xương chậu, bắp đùi, chân vì nó ảnh hưởng tới sức khỏe của mẹ và cũng là các bộ phận khởi tạo ra nguồn sữa và có ảnh hưởng trong suốt quá trình cho con bú. Vì thế khi massage cần phải có những kỹ thuật riêng đi sâu tới các huyệt đạo giúp toàn bộ cơ thể được lưu thông.

Phần ngực rất quan trọng vì đây là thời gian mẹ đang cho con bú. Massage nhẹ nhàng sẽ giúp hai dòng sữa được lưu thông một các liên tục, giúp giảm hiện tượng tắc sữa và viêm ngực.

Massage sau sinh rất tốt đối với các mẹ gặp phải hiện tượng đi tiểu không đều (tiểu nhiều lần).

Khi mang thai và sinh nở các cơ và xương chậu, xương hông của các mẹ thường bị giãn ra, massage vùng xương hông và dùng đai quấn sau sinh sẽ giúp đưa các cơ xương trở lại vị trí cũ.

Các chuyên gia cũng đưa ra lời khuyên cho phụ nữ sinh thường có thể massage sau sinh khi được 4 ngày. Với phụ nữ sinh mổ, chỉ nên massage sau khi vết mổ lành (khoảng 2-4 tuần) và massage tối thiểu 2 lần/tuần trong khoảng 12 tuần đầu để việc massage phát huy được hiệu quả tối đa.

Với đội ngũ nhân viên là nữ hộ sinh, điều dưỡng có bằng cấp, được đào tạo nâng cao về kiến thức liên quan đến mẹ và bé, am hiểu rất rõ những thay đổi của tâm lý và cơ thể phụ nữ mang thai, cùng liệu trình chăm sóc được nghiên cứu và thiết kế dành riêng cho phụ nữ sau sinh trên cơ sở kết hợp phương thức truyền thống dân gian và phương pháp chăm sóc sức khỏe khoa học, và nguyên liệu sử dụng chủ yếu từ thiên nhiên, an toàn cho sức khỏe của mẹ. Dịch vụ làm đẹp sau sinh Care with Love sẽ giúp cho bạn nhanh chóng lấy lại vóc dáng và làn da như trước khi mang thai với một tinh thần thư giãn thoải mái giúp bạn tràn đầy sức khỏe và năng lượng để chăm sóc bé yêu của bạn.

Chăm sóc bầu ngực
Sau khi sinh, ngực bạn xảy ra tình trạng bị chạy xệ, không còn được căng tràn như trước, ngoài ra, nhũ hoa còn bị thâm đen. Vì vậy, bạn phải nhanh chóng thực hiện những động tác massage, những bài tập luyện cho vùng ngực, để ngực nhanh chóng giữ được vóc dáng cho ngực.

Chăm sóc toàn cơ thể
Việc kiêng cữ quá mức sau sinh như : không được tắm rửa, gội đầu, hạn chế tối đa việc tiếp xúc với nước vô hình chung còn tạo điều kiện cho vi khuẩn phát triển gây ra các hiện tượng viêm nhiễm nguy hiểm. Với dịch vụ gội đầu khô và xông hơi toàn thân bằng đinh hương, cúc tần, hương nhu, sả….của  dịch vụ làm đẹp sau sinh Care with love sẽ giúp bạn vệ sinh sạch sẽ, loại bỏ độc tố trong cơ thể và tinh thần thư giãn thoải mái mà vẫn đảm bảo an toàn sản phụ sau sinh.